ÐẠO THIÊN CHÚA, ĐẠO GIA
TÔ, ĐẠO CƠ ÐỐC, ĐẠO CÔNG GIÁO? NÊN GỌI THẾ NÀO CHO CHÍNH DANH?
Khi ta muốn nói đến một sự
vật nào đó trong thiên nhiên, một sự kiện nào đó trong lịch sử, thì phải đặt
cho nó một tên gọi. Có thế khi dùng tên ấy để nhắc đến nó trong những hoàn cảnh
khác nhau, ta mới chắc được rằng ta vẫn nói về sự vật hay sự kiện ấy, mà người
nghe cũng nhận ra như thế. Nếu mỗi lúc lại dùng một tên khác mà gọi, thì người
nghe làm thế nào cùng biết được ta vẫn nói về một sự việc, một sự kiện, và rồi
chính ta cũng không nhận ra được nữa. Vì, trừ những tên riêng ra, thì mỗi tên
gọi có công dụng làm cho ta và người khác nhận định sự việc dưới một khía cạnh
nhất định nào đó.
Chính vì thế mà các khoa
học đều phải xác định danh từ chuyên môn, phải có chính danh, để ai nấy đều rõ
ta muốn nói về cái gì. Danh từ chuyên môn trong các khoa học thường được định
nghĩa một cách thực dụng, vì căn cứ vào những tác động và những kinh nghiệm có
thể đo lường được, để ai nấy đều làm được như nhau và cùng hiểu đích xác như nhau.
Ðó là lối định nghĩa khách quan. Nhưng những danh từ đó, nhất là khi phiên dịch
từ ngoại ngữ, nếu không biết lựa chọn cho chính xác, thì làm cho người nghe,
người đọc hiểu sai hẳn đi.
Người Việt chúng ta, khi
nói về các nhân vật, thường không bỏ được cái thói quen, là thêm vào tên gọi
những tiếng nói lên tình cảm riêng của mình. Ví dụ khi muốn tỏ ra lòng kính
trọng (thật hay giả, cũng vậy) thì thêm chữ “cụ”, “ngài”, v.v…; nếu muốn tỏ ý
khinh bỉ thì thêm những chữ “thằng”, “tên”.
Các sử gia nghiên cứu ở Việt
Nam về đạo Thiên Chúa, thường gặp thấy trong sách vở nhiều tên gọi khác nhau,
như: đạo Ðức Chúa Trời, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Hoa Lang, đạo Khirixitô,
đạo Kirixitô, đạo Kitô, rồi đạo Công giáo nữa. Những tên gọi khác nhau ấy, chắc
gì có cùng một nghĩa như nhau. Cho nên vấn đề là phải gọi thế nào cho đúng, cho
chính danh.
Cách gọi tên đạo Thiên
Chúa của người Trung Hoa cũng rất lúng túng, nhất là khi người ngoại đạo đặt
tên cho nó. Ví dụ trong buổi đầu, vào thế kỉ XVI, người ta gọi là thập tự giáo.
Trong một cuốn từ điển in tại Trung Hoa, tôi thấy dịch chữ christianisme là Cơ
Ðốc giáo, nhưng lại dịch chữ Catholicisme là Thiên Chủ giáo, và chữ
Protestantisme là Gia Tô giáo. Cũng không trách được: chính vì hiểu biết mập
mờ, cho nên phân loại lộn xộn, gọi tên không chính danh. Vì thế ta không nên cứ
thấy người Trung Hoa dịch thế nào thì theo như thế. Bên Việt Nam ta quen gọi
Catholicisme là đạo Công giáo, và Protestantisme là đạo Tin Lành. Như thế có
phần đúng hơn, nhưng không phải là không có chỗ thiếu chính xác, gây nhiều
thiên kiến, như tôi sẽ trình bày sau đây.
Thiết tưởng muốn gọi tên
cho đúng thì người trong cuộc, để hiểu biết rõ hơn về đạo của mình, phải đứng
ra giải thích cho rõ nghĩa và đề nghị tên gọi cho đúng ý. Có thế mới tránh được
những cách gọi lầm, đưa đến những lối hiểu sai trong khi tìm hiểu và nghiên
cứu. Ðó là dự định của tôi trong bài này.
Những cách gọi tên một tôn giáo
Những cách gọi tên một tôn giáo
Theo thói quen, người ta
có nhiều tiêu chuẩn để gọi tên một tôn giáo, một chi nhánh hay một tông phái.
Cách thứ nhất là gọi theo
tên vị giáo tổ, hay vị đã khởi xướng ra giáo phái. Ví dụ: Khổng giáo, Lão giáo,
Phật giáo, đạo Mahômét (Mohammed), đạo Luther, đạo Calvin, v.v…
Cách thứ hai là gọi tên
theo đối tượng. Ðạo thờ vị nào thì gọi theo tên vị đó. Ví dụ: đạo Bàlamôn, đạo
Siva, đạo Phật, đạo Cao Ðài, Thần đạo, đạo Thiên Chúa, v.v…
Cũng có khi lại gọi theo
tên của dân tộc theo đạo. Ví dụ: Ấn (Ðộ) giáo, Hồi giáo (người Hồi ở Tây- Bắc
Trung Hoa theo đạo Mahômét), Anh giáo (người nước Anh theo một tông phái của
đạo Thiên Chúa). Tuy vậy, người tín đồ có thể ý thức được rằng đạo mình theo
không phải là của riêng dân tộc nào, là đạo ai cũng có thể và nên theo. Ðó là
lúc nảy ra ý thức truyền giáo. Truyền giáo để chia sẻ với người khác những niềm
tin mà mình cho là cao quý nhất.
Như thế đủ biết là một tôn
giáo có thể có nhiều tên gọi. Ví dụ đạo Mahômét (gọi theo tên vị giáo tổ) còn
gọi là đạo Hồi hồi, hay Hồi giáo (vì là đạo của người Hồi theo), lại cũng có
tên là đạo Islam (tên chỉ thái độ tuyệt đối quy phục Thiên Chúa); còn đạo do
giáo tổ Giêsu, có biệt hiệu là Christos, truyền bá, thì người Châu Âu gọi là
Chritianisme; người Trung Hoa có hai tên gọi: gọi theo tên vị giáo tổ là Yesu,
đọc theo kiểu Hán – Việt là đạo Giatô; gọi theo biệt hiệu phiên âm là Jilisisu
(Kilisitu), đọc theo kiểu Hán – Việt là Cơ lợi tư đốc, gọi tắt là đạo Cơ Ðốc;
còn ở Việt Nam thì ngay từ buổi đầu đã phiên âm là đạo Khirixitô hay là
Kirixitô, gọi tắt là Kitô.
“Ðạo” hay là “tôn(g) giáo”?
“Ðạo” hay là “tôn(g) giáo”?
Trong truyền thống văn hóa
của Trung Hoa không có sẵn từ ngữ nào để phiên dịch cho đúng từ ngữ religion
của người Châu Âu. Học giả Léon Vandermeersch, chuyên gia về văn hóa Trung Hoa
có viết: “Ngay từ ngữ đó cũng không có trong chữ Hán cổ điển, kiểu nói
zong-jiào (tông giáo) là một từ ngữ cũng mới được đặt ra, trong kiểu nói ấy ta
chỉ thấy có chữ jiào (giáo là dạy), nhưng nó không phải là từ ngữ riêng về tôn
giáo. Còn về những lễ nghi trong Khổng giáo, thì chữ lỉ (lễ) dùng để chỉ nó,
lại không thể dùng để chỉ các lễ nghi trong tôn giáo hiểu theo nghĩa của Châu
Âu, vì thế cả Phật giáo lẫn Lão giáo cũng đều bỏ, không dùng đến nó” [1] .
Tuy là mới được đặt ra
nhân dịp tiếp xúc với người Châu Âu, nhưng từ tôn giáo chúng ta dùng đã quá
quen rồi, cho nên thiết tưởng không nên thay đổi nữa. Tuy nhiên dùng nó không
phải là không có cái bất tiện, bất cập. Thực thế, hiểu theo đúng nghĩa chữ, thì
tông giáo có nghĩa là lời dạy (giáo) của ông tổ (tông). Dĩ nhiên là tôn giáo
cũng là một di sản văn hóa được truyền lại. Nhưng nghĩa của nó quá rộng, vì bất
cứ cái gì được truyền từ đời này sang đời khác đều có thể gọi là tông giáo cả.
Cho nên có thể dùng nó để chỉ những cái mà người Châu Âu không gọi là religion.
Chẳng lẽ chúng ta coi Phật giáo, Thiên Chúa giáo cũng là một loại như Bạch Liên
giáo? Nói cho cùng, chính cái ý niệm tôn giáo đối với người Âu -Mỹ ngày nay
cũng rất khó định nghĩa, vì trong định chế tự do tôn giáo, có nhiều người đem
vào Âu-Mỹ hay là chế biến ra tại Âu-Mỹ những hệ thống tư tưởng và thực hành,
viện cớ là tôn giáo mới, để được tự do truyền bá, tuy nhiều khi người dân Âu-Mỹ
cũng khám phá ra trong đó có những điều nhảm nhí, lừa bịp để làm tiền.
Nói tóm lại, dùng từ ngữ
tôn giáo chỉ nói lên được rằng đó là một truyền thống được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác, chứ không nói rõ được cái nội dung của những truyền thống ấy.
Trong tiếng Việt bây giờ
người ta cũng hay dùng chữ đạo. Tôi nghĩ dùng như thế hay hơn, đúng hơn và giầu
ý nghĩa hơn. Chữ đạo mà ta lấy lại của người Trung Hoa, vừa có nghĩa là đường,
đường phải đi, lối phải sống, lại vừa có nghĩa là nguyên lí điều hòa vũ trụ,
thiên địa nhân. Nó có tính cách thực hành, có liên quan đến hành vi, hạnh kiểm,
nếp sống, như người ta nói: sống cho phải đạo.
Trong sách Phép giảng tám
ngày, sách trình bày giáo lí của đạo Thiên Chúa, do giáo sĩ Alexandre de Rhodes
soạn bằng tiếng Việt viết theo mẫu tự Latinh, có đối chiếu với tiếng Latinh và
cho in tại Rôma năm 1651, ta thấy dùng chữ đạo để phiên dịch chữ Iex, nghĩa là
lề luật (tiếng Pháp là: Ioi), chứ không phải để phiên dịch chữ religio (tôn
giáo). Thực ra chữ Latinh Iex cũng như chữ Hy Lạp nomos đã được dùng để phiên
dịch chữ torah trong Thánh Kinh của đạo Do Thái. Torah là bộ luật do giáo tổ
Môsê (xưa ta phiên âm là Maisen) ban hành cho dân, để biết cách sống cho phải
đạo. Vì Torah là sách chỉ đạo, chỉ cho tín hữu con đường phải theo, nếp sống
phải giữ. Chính vì thế mà tôi nghĩ chữ đạo giầu ý nghĩa hơn chữ giáo.
Ðạo Thiên Chúa, đạo Ðức Chúa Trời
Ðạo Thiên Chúa, đạo Ðức Chúa Trời
Trước khi đạo được truyền
sang Việt Nam thì ở bên Trung Hoa các giáo sĩ Tây phương đã phải giải thích đạo
của mình thờ vị nào. Họ làm việc một cách đường đường chính chính, viết xong
sách thì dâng lên cho vua quan đọc. Khi vua Càn Long nhà Thanh cho làm sổ thư
tịch bằng Hán văn ở Trung Quốc, có cho vào sổ đó ba cuốn sách trình bày đạo
Thiên Chúa do ba vị giáo sĩ Tây phương soạn thảo [2] . Nhưng muốn gọi cho đích
xác vị nào đạo mình thờ thì không dễ gì, vì trong các vị Thần, Thánh, Tiên,
Phật được thờ bên Trung Quốc, không thấy có vị nào như thế cả.
Khó gọi tên như thế là vì
lấy gốc tích từ đạo Do Thái. Thực thế, dân Do Thái thờ phụng một vị không giống
một nhân vật hay sự vật nào trong trời đất này cả. Vì thế không thể gọi tên
được, cũng như ta đọc trong Ðạo Ðức kinh của Ðạo gia: “Danh khả danh phi thường
danh”. Vì gọi tên ra được, tức là phân loại được, xếp được vào một loại như các
nhân vật hay sự vật khác. Ðàng khác, cũng như ở Việt Nam có thói tránh tên huý,
cho nên tên viết phải đọc trại đi; cũng thế, mà còn hơn nữa, người Do Thái chỉ
viết tên vị đó bằng bốn phụ âm YHWH, mà không viết nguyên âm, vì thế không thể
đọc lên được, vì không được phép gọi tên vị đó. Khi quan niệm tôn giáo ấy được
truyền vào văn hóa Hy Lạp và Latinh, thì người ta tạm dùng từ ngữ Theos và
Deus, có nghĩa là thần linh. Nhưng vì trong hai nền văn hóa đó người ta thờ
bách thần, nghĩa là vô số thần linh, cho nên phải nói thêm ra rằng mình chỉ thờ
có một thần linh mà thôi còn các thần linh khác thì mình coi là không có, và
cũng vì thế người ta viết chữ hoa Theos, Deus, như là tên riêng vậy. Sau này
người Châu Âu cũng viết chữ hoa như thế: Deus, Dieu, Dio, Dios, God, Gott, v.v…
Các giáo sĩ Tây phương đã
bàn luận rất nhiều để tìm ra tên gọi cho chính danh. Họ đi tới quyết định là
không dùng chữ Thiên, không dùng hai chữ Thượng Ðế, để tránh hiểu lầm, mà chỉ
dùng hai chữ Thiên Chủ (hay là Thiên địa chân chủ, Chúa thật trời đất). Do đó
gọi tên đạo là Thiên chủ giáo. Và vì các giáo sĩ truyền bá Thiên chủ giáo vào
thế kỉ XVI và XVII đều thuộc về tông phái “Công giáo”, cho nên người ta cũng
dùng những chữ Thiên chủ giáo để chỉ đạo “Công giáo”.
Khi đạo truyền vào Việt
Nam, thì tên gọi đã được ấn định, cho nên người ta gọi theo chữ Hán – Việt là
Thiên Chủ giáo, Thiên Chủ là Chúa Trời, nhưng người Việt ta đệm chữ Ðức để tỏ
lòng cung kính, cũng như ta nói: Ðức Phật, Ðức Khổng Tử, Ðức Thánh Trần, và sau
này người Công giáo Việt Nam cũng có cách gọi tên như: Ðức Chúa, Ðức Chúa Bà,
Ðức Bà, Ðức Mẹ, Ðức Cha, Ðức Ông, v.v… Vì thế cho nên tên gọi đạo là đạo Ðức
Chúa Trời.
Có một điều làm cho tôi
hơi thắc mắc: vì sao người mình không đọc theo lối Hán – Việt là Thiên Chủ, mà
lại đọc là Thiên Chúa? Tôi xin phép đề nghị một giả thuyết: Ðạo Thiên Chúa được
truyền sang đất Ðại Việt vào thời Nam Bắc phân tranh: Ðàng Trong thì có chúa
Nguyễn, Ðàng Ngoài thì có vua Lê, chúa Trịnh. Vua thì xưng hiệu là đế, là hoàng
đế, còn chúa Nguyễn và chúa Trịnh, thì tuy chỉ có tước vương là vua, nhưng thực
có binh quyền trong tay và tự quyết định lấy mọi việc. Vì thế khi nói về chúa
Trịnh, các giáo sĩ Tây phương thời đó quen gọi là “le roi du Tonkin”. Biết đâu
vì vua là hư vị, còn “Chúa” mới có thực quyền cho nên người ta phiên dịch chữ
Deus là Thiên Chúa?
Nói cho đúng thì gọi là
Thiên Chúa vẫn chưa đủ ý nghĩa, vì sách vở đời xưa cũng hay dùng kiểu nói Thiên
địa chân chủ, Chúa thật trời đất. Nhiều khi lại gọi vắn tắt là Chúa, và để phân
biệt được với chúa Trịnh, chúa Nguyễn, thì các giáo sĩ thường đệm từ ngữ Deus,
đáng lẽ phải phiên âm là Ðêu, nhưng lại viết theo kiểu người Châu Âu là Dêu,
cho nên gọi là Chúa Dêu. Lối phiên âm này có điều bất tiện là: người Hà Nội đọc
là Zêu, người miền khác lại đọc là Rêu, Giêu hay là Jêu!
Ðạo Hoa Lang, Ðạo Gia Tô?
Ðạo Hoa Lang, Ðạo Gia Tô?
Hai tên gọi này đã có từ
thế kỉ XVII. Các sách Ðại Việt sử kí toàn thư (ÐVSKTT) và Khâm định Việt sử
thông giám cương mục đều có nhắc tới.
Về tên gọi Hoa Lang thì
ÐVSKTT viết: (1663) Mùa đông tháng 10, cấm người trong nước học đạo Hoa Lang.
Trước đây có người nước Hoa Lang vào nước ta, lập đạo lừa phỉnh dân ngu, đàn
ông đàn bà ngu dốt nhiều người tin mộ, chỗ nhà giảng người ở hỗn tạp, trai gái
không phân biệt. Trước đã đuổi người giảng đạo đi rồi, mà sách vở và nơi giảng
hãy còn thói tệ chưa đổi. Ðến nay lại nghiêm cấm” (Q. XIX, Huyền tôn Mục hoàng
đế, Cảnh Trị, bản dịch Nxb. KHXH, tập III, tr. 298).
Người Công giáo không chịu
nhận tên gọi như thế và đã tìm cách giải thích từ lâu rồi. Tôi xin trưng dẫn ra
đây chứng lí được in ra bằng chữ Quốc ngữ lần đầu tiên trong sách Chân đạo yếu
lí do giám mục Paul – François Puginier (quen gọi là Ðức Cha Phước), coi sóc
địa phận Tây Ðàng Ngoài cho in bằng chữ Quốc ngữ năm 1882, trang 124-125: “Có
kẻ quen gọi đạo Thiên Chúa là Hoa Lang đạo; nhưng mà tiếng Hoa Lang có ít người
hiểu. Vậy có sách rằng: tên Hoa Lang là tên đặt cho lái buôn kia chở những vóc
có hoa như hoa khoai lang, cho nên gọi lái buôn ấy là Hoa Lang. Ðến ngày sau
những người giữ đạo Thiên Chúa gọi là Hoa Lang đạo, vì giữ một đạo như lái buôn
ấy; nhưng mà trong các sách đạo Thiên Chúa chẳng có dùng tiếng Hoa Lang bao
giờ, một dạy kính chuộng một Thiên địa chân chúa trên hết mọi sự và yêu người
ta bằng mình ta vậy”. Ðoạn văn đó căn cứ vào bản chữ Nôm in năm 1829, và có sửa
ít chút; rồi bản chữ Nôm đó đã lấy lại trong cặp vở ghi chú của giáo sĩ
Langlois viết vào cuối thế kỉ XVIII [3] .
Trong thiên khảo luận viết
bằng tiếng Pháp, nhan đề Truyền thống Việt Nam: Một quốc gia trong lòng văn hóa
Trung Hoa, học giả Philippe Langlet viết: “Trong Minh sử, Ngoại quốc truyện, có
gọi họ là Hoà Lan; họ là người phương Tây mà dân quê tôi gọi trại đi là Hoa
Lang” [4] . Và ông ghi chú rằng đó không thể là Hoà Lan được, nhưng là người Bồ
Ðào Nha, căn cứ theo lá thư của giáo sĩ Le Royer viết năm 1714 về vụ cấm đạo
năm 1712, như sau: “Cũng như trước đây, sắc lệnh cấm đạo không bao giờ gọi tên
là đạo Ðức Chúa Trời, nhưng đã cấm đạo dưới cái tên là đạo Hoa Lang, tức là đạo
của người Bồ Ðào Nha” (Lettres édifiantes et curieuses, t. IV, tr. 538b).
Gần đây Alexander Barton
Woodside lại đưa ra một lối giải thích khác trong cuốn sách Việt Nam và khuôn
mẫu Trung Hoa. Căn cứ vào lối giải thích của một người Thái Lan, là Chule
Chakrabongse [5] , Woodside viết: “(cũng trong những tài liệu đó), Châu Âu,
thường được gọi là Hoa Lang quốc, Hoa Lang là cách người Việt Nam phiên âm
tiếng Xiêm farang, từ ngữ dùng để chỉ người da trắng” [6] . Tuy chưa có bằng
chứng gì cả, nhưng tôi cũng tự hỏi: biết đâu chữ farang đó lại chẳng phải là từ
chữ France (Pha Lang Sa) mà ra?
Còn về tên gọi đạo Gia Tô
(cũng viết là Da Tô), thì dễ giải thích hơn. Ðây là lời giải thích trong sách
Chân đạo yếu lí đã dẫn trên đây: “Bằng tiếng Da Tô kẻ ghét đạo quen dùng, thật
là tiếng vô nghĩa trong nước Annam, vì kẻ đọc tiếng ấy cứ về chữ nho, song người
Ðại Minh đọc tiếng ấy là Jêsu, như bổn đạo Annam cũng quen đọc, mà trong các
sách đạo đã cắt nghĩa rằng: tiếng Jêsu nghĩa là đấng hay cứu” (tr. 137; bản Nôm
năm 1828, tờ 126 a+b).
Như thế cũng đủ rõ là hai
tên gọi Hoa Lang và Gia Tô không chỉnh. Có điều là các sắc lệnh cấm đạo thời
xưa, và cả bài hịch Bình tây sát tả của Văn thân, thì đều viết bằng Hán văn,
cho nên viết và đọc theo giọng Hán –Việt là đạo Gia Tô, chứ có lẽ không biết
phải gọi là Giêsu. Về chữ Cơ Ðốc cũng thế, như đã nói trên đây. Ta thấy, viết
như người Trung Hoa thì được, nhưng đọc lên theo giọng Hán –Việt thì sai đi
nhiều. Ðó cũng là cái tật của người mình khi phiên âm tên ngoại quốc: thay vì
phiên âm theo cách đọc của người ta, thì lại bắt chước cách viết của người
Trung Quốc, rồi đọc sang giọng Hán – Việt. Ví dụ trước đây thay vì viết tên
Rousseau và chỉ cách đọc là Ruxô, thì lại phiên âm là Lư Thoa; thay vì viết
Platon và chỉ cách đọc là Pờlatôn, thì lại phiên âm là Bá Lạp Ðồ, v.v…
Vậy nên làm thế nào?
Vậy nên làm thế nào?
1. Ở Việt Nam người ta
quen nói đạo của người Công giáo là đạo Thiên Chúa. Nói như thế đúng nhưng chưa
rõ lắm. Thực vậy, các tín đồ của đạo Do Thái, của đạo Giêsu và của đạo Hồi hồi
(Islam) đều cùng thờ một Thiên Chúa, một Thiên Ðịa Chân Chúa như nhau, nhưng họ
khác nhau về quan niệm và về tương quan với Thiên Chúa, lại khác nhau về lối
sống đạo và hành đạo.
Người Do Thái căn cứ vào
lịch sử của họ mà tin rằng Thiên Chúa đã chọn riêng dân tộc của họ, chọn giáo
tổ của họ là Môsê, cho họ biết dự định của Ngài về họ, và thành lập giao ước với
họ, lại dẫn dắt họ trên đường đời. Ðạo của họ, tuy là có nói đến ý định của
Thiên Chúa về vận mệnh của các dân tộc khác, nhưng không có tính cách phổ
thông, vì dành ưu tiên cho một dân tộc, ít là trong một giai đoạn lịch sử. Cũng
như hai tôn giáo sau đây, họ tin rằng Thiên Chúa là siêu việt, khác hẳn mọi vật
trong trời đất này.
Còn môn đồ của đức Giêsu,
cũng từ đạo Do Thái mà ra, thì tin rằng chính Ngài là hiện thân của Thiên Chúa,
để dạy dỗ và để tỏ ra mối tình thân ái đối với nhân loại. Ðó là giao ước mới
của Thiên Chúa. Cũng như trong đạo Do Thái, họ tin tưởng rằng Thiên Chúa có
tình riêng với nhân loại, chứ không hờ hững bất xét đối với người ta, như thần
linh của các tôn giáo khác. Ðạo của Ngài có tính cách phổ thông, vì là đường
lối đề nghị cho mọi người, chứ không dành riêng cho một dân tộc nào cả.
Hồi giáo cũng tôn thờ một
vị Thiên Chúa như thế, nhưng họ đến sau hai tôn giáo kia, cho nên không cần
kinh nghiệm nhiều thế kỉ trong lịch sử, không cần mất nhiều thì giờ, để nhận
định là có một Thiên Chúa mà thôi. Nhưng họ không cho rằng Thiên Chúa nói với
người ta một cách từ từ, qua những biến cố lịch sử của một dân tộc (Do Thái),
hay là qua nếp sống của một nhân vật đặc biệt (Giêsu), mà là nói thẳng ra ngay
bằng tiếng Arập cho giáo tổ là Mohammed nghe và cho chép lại thành cuốn Thánh
kinh Coran. Ai nấy phải nghe và quy phục. Hồi giáo là đạo phổ thông, nhưng nội
dung thì ít hơn đạo Do Thái và đạo Giêsu nhiều, vì Mohammed cho rằng hai đạo ấy
quá rườm rà, và ông cho rằng làm như ông là trở về nguồn trong sáng và đơn sơ
hơn. Ðại khái là như thế.
Người Công giáo thì theo
đạo do Ðức Giêsu lập, tức là theo một trong ba tôn giáo thờ một Thiên Chúa. Cho
nên đúng là họ theo đạo Thiên Chúa.
2. Nếu nói thêm ra rằng
người Công giáo theo đạo do Ðức Giêsu Kitô (Jésus-Christ), thì cũng đúng nữa,
nhưng vẫn chưa rõ lắm, vì Công giáo là một trong mấy tông phái của đạo Giêsu,
như tông phái Chính Thống (Orthodoxe), và tông phái Tin Lành (évangélique,
protestant). Riêng tông phái Tin Lành, cũng gọi là Canh tân giáo (réformée), trước
đây đã chia ra làm nhiều chi nhánh, và ngày nay, nhất là bên Hoa Kỳ lại thêm ra
vô số chi nhánh mới, nhiều khi không biết đến nhau và không lâu bền. Vì thế
tông phái Tin Lành thấy cần phải thống nhất, và họ đã thiết lập ra Hội đồng Ðại
kết. Nhưng thống nhất không phải là dễ, vì có nhiều điểm khác nhau, và ai cũng
cho mình là đạo Giêsu chính hiệu.
Vậy phải gọi tên đạo của Ðức Giêsu Kitô thế nào cho đúng?
Vậy phải gọi tên đạo của Ðức Giêsu Kitô thế nào cho đúng?
Theo như lịch sử thì cái
tên christianus (chrétiens) và christianismus là tên người ngoại cuộc đặt cho
môn đồ của Ðức Giêsu và đạo Ngài dạy, nghĩa là không đặt theo tên vị giáo chủ.
Biệt hiệu tiếng Hy Lạp của Ngài là Christos (Christ): nghĩa là đạo do vị
Christos (tiếng gốc Hipri là Masia), tức là vị mà Thiên Chúa sai xuống thế gian
để cứu độ cho người ta. Như đã nói trên đây, người Trung Quốc phiên âm là
Jilisisu hay là Kilisitu, đọc theo giọng Hán-Việt là Cơ lợi tư đốc, gọi tắt là
Cơ Ðốc. Cho nên khi gọi đạo Ngài là Cơ Ðốc giáo tức là phiên âm chữ
Christianisme. Ngoài ra người Trung Quốc cũng có danh từ Ye su jiào, đạo của
Giêsu, nhưng giọng Hán – Việt lại đọc trệch đi là Gia Tô giáo, hay là đạo Gia
Tô.
Bên Việt Nam buổi đầu
người ta phiên âm chữ Christos là Khirixitô hay là Kirixitô và gần đây là Kitô.
Xem chừng người ta đã bắt đầu quen dùng tên gọi đạo Kitô thay vì đạo Kirixitô.
Cá nhân tôi thấy nó thế nào ấy, vì đọc lên không thấy có âm hưởng gì cả, lại
không thấy giống chữ Christos là bao nhiêu. Có lẽ dùng mãi thì nó cũng quen đi.
Nhưng tôi đề nghị nên dùng thêm mấy kiểu nói khác để dịch chữ Christianisme cho
rõ ý nghĩa hơn, như: đạo Giêsu, đạo Chúa Giêsu, đạo Chúa Cứu Thế. Ðề nghị như
thế là tôi căn cứ vào lời giải thích trong sách giáo lí, sách Bổn cũ, Phần I,
đoạn 4: “Hỏi: Giêsu nghĩa là làm sao? Thưa: Nghĩa là đấng hay cứu….”. Như thế
dĩ nhiên là bỏ mất chữ Christos, nhưng không thiệt gì cả vì chữ đó là tiếng Hy
Lạp dùng để phiên dịch chữ Hipri Masia, có nghĩa là cứu tinh mà Thiên Chúa sai
xuống thế gian để cứu độ cho người ta.
Phần Phụ lục: Về nguồn gốc hai chữ “Công giáo”
Phần Phụ lục: Về nguồn gốc hai chữ “Công giáo”
Cho đến hết thế kỉ XIX, đạo
Giêsu Cứu Thế (Gia Tô, Cơ Ðốc) thường bị khó dễ, bắt bớ, cấm cách, vì nội dung
của nó không được vua quan cho là hợp với đạo lí. Người theo đạo đã phải ra
công minh chứng rằng đạo của mình không có gì là trái với tam cương ngũ thường.
Nhưng vào thế kỉ XX, khi mà người theo đạo dùng hai chữ “Công giáo” để chỉ cho
đích xác tông phái của mình, thì bị một số người ngoại cuộc hiểu lầm hay là
hiểu sai đi, gây ra nhiều xích mích tai hại cho hoà bình. Không biết như thế là
vô tình hay cố tình, nhưng những người này cho rằng hai chữ đó nói lên cái tham
vọng của người Công giáo muốn đặt tôn giáo của mình lên làm tôn giáo của công
quyền, làm tôn giáo của nhà nước, làm quốc giáo, nghĩa là nhà nước có thể dùng
công lực và công quyền để bắt buộc mọi người phải theo, và dĩ nhiên là đi tới
kì thị tôn giáo. Cái tham vọng đó, xưa nay nhiều tôn giáo đã, đang và còn sẽ
thực hiện, nhất là khi người ta không phân biệt tôn giáo với chính trị. Nhưng
đó không phải là lập trường của người Công giáo, vì trên bình diện lí thuyết họ
đòi phải phân biệt tôn giáo với chính trị.
Thực ra cách đây hơn 60
năm tôi đã nghe một linh mục lão thành nói rằng dùng chữ “Công giáo” thì không
chính danh, mà phải dùng hai chữ khác, ví dụ như “Phổ giáo” để nói lên rằng đó
là đạo chung đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào.
Sau đây tôi xin nói lên
cái nội dung và nguồc gốc của hai chữ “Công giáo”, để tránh những cái hiểu lầm
tai hại.
Theo như chỗ hiểu biết của
tôi thì trong sách vở của người theo đạo Giêsu Cứu Thế, từ thế kỉ XVII cho đến
hết thế kỉ XIX, chưa bao giờ dùng hai chữ “Công giáo”. Mãi đến thế kỉ XX mới
dùng, nhưng tôi chưa biết đích xác ai đã bắt đầu dùng ở Việt Nam, dùng từ bao
giờ và trong văn kiện nào. Xin để các nhà nghiên cứu có phương tiện tìm giúp.
Như ai nấy đều biết, chữ
“Công giáo” bây giờ dùng để dịch chữ “Catholica” (Catholique). Vốn chữ đó là do
gốc Hy Lạp: kata = (theo như), holon (= cái toàn thể), dùng để chỉ một trong ba
đặc điểm của giáo hội, nghĩa là của cộng đoàn những người theo đạo Giêsu Cứu
Thế. Những người đó ý thức được và tuyên xưng (trong kinh Credo, tức là kinh
Tin Kính) ra rằng cộng đoàn của họ là cộng đoàn duy nhất (una), không chia ra
năm bè bảy phái, thánh thiện (sancta), nghĩa là có mục đích và các phương tiện
giúp cho người ta thánh thiện. Còn đặc điểm thứ ba là chữ Catholica trong mấy
thế kỉ đầu không tìm ra từ ngữ nào để dịch cho đúng, cho nên người ta chỉ biết
lấy lại chữ Catholica rồi giải thích ý nghĩa của nó.
Muốn nói cho đầy đủ cũng
cần phải thêm rằng: ngày xưa người ta chưa dùng chữ thánh thiện và chữ giáo hội
(hội thánh) [7] để dịch chữ sancta và chữ ecclesia (église, giáo hội). Riêng
chữ ecclesia, thì người ta còn phiên âm chữ Igreja từ tiếng Bồ Ðào Nha, thành
ra nhiều kiểu.
Xin đơn cử ra đây một vài
ví dụ: giáo sĩ Alexandre de Rhodes, trong sách Phép giảng tám ngày (Roma, 1651)
thì dùng kiểu nói: “thánh ecclesia” (tr. 136). Trong Sách dạy những phép giúp
lễ misa, viết tay tại Cửa Hát năm 1704 (Văn khố Hội thừa sai nước ngoài tại
Paris, AMEP, số V – 1099) thì viết là Ighereja. Trong Sách giảng đạo thật viết
năm 1785, (AMEP, số 1183) thì nói “thánh Igrêsa catholica”. Còn trong sách Bổn
(sách giáo lí) tiếng Việt, có đề tên Latinh là Catechismus annamiticus (AMEP,
số V-1092) – có lẽ đã soạn ra vào thế kỉ XVIII – thì viết: “Tôi tin có sangta
Igheresa catholica” (tr. 117). Có lẽ Giám mục Bá Ða Lộc (Pierre Pigneaux
Béhaine) là người đầu tiên dùng chữ “Hội thánh” thay vì chữ “ecclesia” trong
sách Thánh giáo yếu lí Quốc ngữ” [8] (in năm 1774 tại Quảng Châu bằng chữ Nôm,
có bản viết tay bằng chữ Quốc ngữ mẫu tự Latinh, AMEP số V-1095, tr. 42), nhưng
cũng trong sách đó, trang 64, trong kinh “Tôi tin kính”, lại dùng kiểu nói cũ
“Tôi tin có Sancta Ighêleja catholica”. Trong Sách sổ sang chép các việc, viết
xong tại Lisboa (Lisbonne, Bồ Ðào Nha) năm 1822 (do Thanh Lãng giới thiệu và
Viện đại học Ðà Lạt cho xuất bản năm 1968), thì tác giả Philiphê Bỉnh vẫn còn
dùng kiểu nói “thánh Igreja” (tr. 262) và “thánh Igreja catholica” (tr. 194).
Về ý nghĩa chữ
“catholica”, thì sách Thánh đạo đại nguyên, in bằng chữ Quốc ngữ tại Làng Sông,
gần Quy Nhơn, năm 1907 giải thích như sau: “Chính mình Chúa xuống thế lập một
hội chung cho các nước cả và thiên hạ” (tr. 199); Và ngày nay người Công giáo
Việt Nam vẫn đọc trong kinh Tin Kính: “Tôi tin có hội thánh hằng có ở khắp thế
này”. Những câu mà tôi cho in nghiêng đều chứng tỏ rằng những người đọc kinh
như thế không có ý dùng công lực hay công quyền để bắt ép người khác phải theo
đạo mình.
Như tôi đã nói trên đây,
hai chữ “Công giáo” dùng để dịch chữ “catholica” thực ra không hợp với ý nghĩa
của nó cho lắm, lại cũng có thể gây ra hiểu lầm. Nhưng người ta dùng cũng đã
quen, cho nên vấn đề là phải giải thích cho người ta hiểu đúng. Nhưng hai chữ
đó từ đâu mà ra?
Theo tôi hiểu thì có hai
nguyên do đưa tới kiểu nói “Công giáo”.
Thứ nhất là về chữ “giáo”:
Theo đúng nghĩa của nó thì tất cả những người theo đạo Giêsu Cứu Thế đều là
thành phần của một cộng đoàn catholica, chung cho cả thế giới, không phân biệt
quốc gia dân tộc, coi mọi người là anh em, con một Cha chung; vì cộng đoàn
không có tính cách thế tục, hơn nữa lại cũng không phân biệt tông phái. Vì thế
các tông phái, tuy nhiều khi không tự xưng là catholica, nhưng cùng có niềm tin
một cộng đoàn catholica như nhau.
Vào thế kỉ XI vì một vài
lí do có tính cách văn hóa và cách thức tổ chức, lại đôi khi có thêm lí do
chính trị và kinh tế, hơn là vì lí do đức tin, nên có li khai thành hai tông
phái, hai cộng đoàn: người miền Ðông Âu, nói tiếng Hy Lạp, thì tự xưng là
“oxthodoxes”, có nghĩa là “chính kiến”, nhưng ta quen gọi là giáo hội “Chính
Thống”; còn người miền Tây Âu, nói tiếng Latinh, thì không lấy tên gì khác, cho
nên vẫn gọi là giáo hội catholica. Ðến thế kỉ XVI, lại có li khai nữa ở giáo
hội Tây Âu: những người ở Bắc Âu đi theo phong trào cải cách của Martin Luther
(1483-1546) và của Jean Calvin (1509-1564) thì tự xưng là “Tin Lành”
(évangélique), “Cải giáo (réforme) hay là “Chống đối” (protestant, không nên
dịch là “thệ phản”). Còn những người miền nam Châu Âu, không chống đối, không
li khai với giáo tông, thì không có tên gì khác, cho nên vẫn gọi là giáo hội
catholica. Từ đó, giáo hội gọi là catholica, chỉ còn là một tông phái, tuy là
cộng đoàn đông người nhất, nhưng không thu họp được tất cả các môn đồ của giáo
tổ Giêsu nữa. Những giáo sĩ đầu tiên sang truyền giáo ở Việt Nam đều thuộc về
giáo hội catholica cả.
Thêm vào đó chữ catholica,
theo lí thuyết phải dùng để chỉ một đặc tính của giáo hội, thì dần dần ở Châu
Âu người ta dùng để chỉ tôn giáo. Vì lí do rằng mỗi tông phái trên đây đều cho
rằng đường lối của mình là chính đạo. Từ đó, ngay từ bên Châu Âu người ta đã
nói đến đạo Chính Thống (religion orthodoxe), đạo Tin Lành (religion
protestante) và đạo catholica. Theo như tôi biết thì trong sách vở bằng tiếng
Việt có lẽ Philiphê Bỉnh là người đầu tiên dùng kiểu nói “đạo catholica
Romana”, “đạo catholica” (Xem Sách sổ sang chép các việc, đã dẫn trên đây,
trang 177 và 191). Như thế là ta giải thích được chữ “giáo” trong kiểu nói
“Công giáo”.
Thứ hai là về chữ “công”:
Chữ catholica trước đây không được phiên dịch ra tiếng Việt, mà chỉ được giải
thích là: “hội thánh hằng có ở khắp thế này”. Vì thế tôi nghĩ phải tìm trong
sách đạo viết bằng chữ Hán dùng ở Việt Nam. Thực ra các giáo sĩ người Âu, trước
khi họ sang Việt Nam, thì thường đã sang Trung Hoa trước, và đem sang bên ta một
ít sách chữ Hán cho mình dùng, không những là sách giáo lí mà cả sách chép các
kinh nhật tụng nữa. Ðặc biệt nhất là Kinh cầu Ðức Bà bằng chữ Hán, gọi là Kinh
cầu chữ, mà trước đây thường đọc trong những ngày giỗ.
Tôi đã may mắn tìm được
trong cuốn sách viết tay Bổn Ba Ngôi (AMEP, số V-1100) trang 115, có Kinh Tin
Kính phiên âm Hán –Việt. Kinh bắt đầu thế này: “Thần tín tuyền năng giả Thiên
Chúa Phatêrê tạo thành thiên địa, v.v…: (= Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha
phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, v.v…). Ðến chỗ nói về giáo hội thì phiên âm
Hán-Việt là như sau: “Thần tín hữu thánh nhi công Ighêregia”. “Thần tín hữu” là
“Tôi tin có”; “thánh” là dịch chữ “sancta” là “thánh thiện”; “nhi” là “mà, mà
lại”; còn “Ighêrêgia” là phiên âm chữ “Igreja”, “ecclesia” (église), tức là
giáo hội, hội thánh. Riêng chữ “công” ở đây là dịch chữ “catholica”, có nghĩa
là (hội thánh) hằng có ở khắp thế này”, như đã giải thích trên đây.
Như thế đã rõ: tông phái
catholica theo đường lối nào, theo đạo nào, thì đạo ấy gọi là đạo catholica,
tức là đạo chung cho mọi người. Lại vì chữ “công” có nghĩa là “chung”, cho nên
người Trung Hoa dịch “catholica” là “công”. Thành ra khi chuyển đặc tính
catholica làm đặc tính của đạo, thì dĩ nhiên là người ta dùng hai chữ “Công
giáo”. Tôi không biết người đầu tiên dùng hai chữ “Công giáo” có cân nhắc như
thế không, nhưng tôi trộm nghĩ đó là cái lí sự làm nền tảng cho cách phiên dịch
chữ “religio catholica”.
Vẫn biết là cần phải nói
cho chính danh, mới tránh được hành động sai lầm, nhưng tôi nghĩ không nên câu
nệ về từ nguyên [9] . Những kiểu nói tuy không hoàn toàn đúng, nhưng dùng đã
quá quen, như hai chữ “Công giáo”, thì có lẽ không nên sửa lại nữa, nhưng cần
phải giải thích để hiểu cho đúng./.
Trần Văn Toàn, GS. Ðại học
Công giáo Lille, Pháp.
——————————————————————————–
——————————————————————————–
[1]“Tradition chinoise et
religion”, trong cuốn sách tập thể Catholicisme et sociétés asiatiques, do
Alain Forest và Yoschibaru Tsuboi thu thập, Nxb. L’Harmattan, Paris, 1988, tr.
21.
[2]Ba vị đó là Matteo đã viết cuốn Thiên Chủ Thực Nghĩa, Diego de Pantoja đã viết cuốn Thất Khắc (là bảy điều khắc kỉ, lấy bảy nhân đức để khắc phục bảy thói xấu. Sách chữ Hán này đã có dùng tại Việt Nam) và Ferdinand Verbiest đã viết sách trình bày đại cương các tín lí cơ bản của đạo Thiên Chúa. Trong bức thư viết tại Bắc Kinh, ngày 31-7-1778, một giáo sĩ có kể như sau: “Ðiều làm cho chúng tôi thích thú, là trong tủ sách có giá trị đó thì hoàng đế đã cho xếp vào đó ba cuốn sách do các giáo sĩ dòng Tên (tu hội lấy tên đức Giêsu mà gọi) biên soạn”, và ông kết luận: “Ðây là điều tiền hậu bất nhất của con người ta. Người Trung Quốc đem sách của đạo ta vào sổ các sách tốt nhất viết bằng Hán văn, nhưng họ lại bắt bớ cấm cách người theo đạo ta” (trong Nouvelles lettres édifiantes et curieuses, Lyon, 1819, tập XIII, tr. 519-520).
[3]Xem: Archives des Missions étrangéres de Paris (Văn khố Hội Thừa sai nước ngoài tại Paris), tập V-1102.
[4]“La tradition Vietnamienne: un Etat national au sein de la civilisation chinoise”, in trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises (Saigon), bộ mới, tập XLV, số 2+3, 1970, tr. 101.
[5]Xem sách Lords of life: The paternal Monarchy of Bankok, London, 1960, tr. 36.
[6]Vietnam and the Chinese Model, Cambridge (Ma) and London, 1988, tr. 246.
[7]Cũng như bên nhà Phật, cộng đoàn những người đi tu theo Phật pháp gọi là Sâng, người Trung Hoa không dịch, nhưng phiên âm là seng (seng-jia), đọc theo giọng Hán –Việt là tăng (tăng già), nhưng hình như không còn hiểu là cộng đoàn, mà hiểu là cá nhân người đi tu, nghĩa là ông sư (người đi tu ngày xưa tự xưng là bần tăng). Thiết tưởng có lẽ vì thế mà ngày nay khi muốn nói đến cộng đoàn thì bên nhà Phật cũng dùng chữ giáo hội (église) như bên Công giáo.
[8]“Quốc ngữ” ở đây có nghĩa là tiếng nước ta, tiếng Việt, chứ không phải chữ Hán. Vì thế chữ Nôm cũng gọi là chữ Quốc ngữ.
[9]Ví dụ ở Châu Âu ngày nay ai nấy đều dùng Physiologie theo nghĩa là Sinh lí học, mà không xét rằng theo từ nguyên thì nó có nghĩa là Thiên nhiên luận, như triết gia Feuerbach đã dùng. Cũng như hai chữ Hán-Việt phương tiện thì Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 1967, định nghĩa là Vật sử dụng để làm một việc gì, để đạt một mục đích; nhưng trong Dictionnaire Chinois-Francais, Bắc Kinh, 1964, lại dịch hai chữ fang biàn (phương tiện) là Commode, Favorable, Commodité, Favoriser; và kiểu nói qù fang biàn (khứ phương tiện) phải hiểu là… đi nhà vệ sinh.
[2]Ba vị đó là Matteo đã viết cuốn Thiên Chủ Thực Nghĩa, Diego de Pantoja đã viết cuốn Thất Khắc (là bảy điều khắc kỉ, lấy bảy nhân đức để khắc phục bảy thói xấu. Sách chữ Hán này đã có dùng tại Việt Nam) và Ferdinand Verbiest đã viết sách trình bày đại cương các tín lí cơ bản của đạo Thiên Chúa. Trong bức thư viết tại Bắc Kinh, ngày 31-7-1778, một giáo sĩ có kể như sau: “Ðiều làm cho chúng tôi thích thú, là trong tủ sách có giá trị đó thì hoàng đế đã cho xếp vào đó ba cuốn sách do các giáo sĩ dòng Tên (tu hội lấy tên đức Giêsu mà gọi) biên soạn”, và ông kết luận: “Ðây là điều tiền hậu bất nhất của con người ta. Người Trung Quốc đem sách của đạo ta vào sổ các sách tốt nhất viết bằng Hán văn, nhưng họ lại bắt bớ cấm cách người theo đạo ta” (trong Nouvelles lettres édifiantes et curieuses, Lyon, 1819, tập XIII, tr. 519-520).
[3]Xem: Archives des Missions étrangéres de Paris (Văn khố Hội Thừa sai nước ngoài tại Paris), tập V-1102.
[4]“La tradition Vietnamienne: un Etat national au sein de la civilisation chinoise”, in trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises (Saigon), bộ mới, tập XLV, số 2+3, 1970, tr. 101.
[5]Xem sách Lords of life: The paternal Monarchy of Bankok, London, 1960, tr. 36.
[6]Vietnam and the Chinese Model, Cambridge (Ma) and London, 1988, tr. 246.
[7]Cũng như bên nhà Phật, cộng đoàn những người đi tu theo Phật pháp gọi là Sâng, người Trung Hoa không dịch, nhưng phiên âm là seng (seng-jia), đọc theo giọng Hán –Việt là tăng (tăng già), nhưng hình như không còn hiểu là cộng đoàn, mà hiểu là cá nhân người đi tu, nghĩa là ông sư (người đi tu ngày xưa tự xưng là bần tăng). Thiết tưởng có lẽ vì thế mà ngày nay khi muốn nói đến cộng đoàn thì bên nhà Phật cũng dùng chữ giáo hội (église) như bên Công giáo.
[8]“Quốc ngữ” ở đây có nghĩa là tiếng nước ta, tiếng Việt, chứ không phải chữ Hán. Vì thế chữ Nôm cũng gọi là chữ Quốc ngữ.
[9]Ví dụ ở Châu Âu ngày nay ai nấy đều dùng Physiologie theo nghĩa là Sinh lí học, mà không xét rằng theo từ nguyên thì nó có nghĩa là Thiên nhiên luận, như triết gia Feuerbach đã dùng. Cũng như hai chữ Hán-Việt phương tiện thì Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 1967, định nghĩa là Vật sử dụng để làm một việc gì, để đạt một mục đích; nhưng trong Dictionnaire Chinois-Francais, Bắc Kinh, 1964, lại dịch hai chữ fang biàn (phương tiện) là Commode, Favorable, Commodité, Favoriser; và kiểu nói qù fang biàn (khứ phương tiện) phải hiểu là… đi nhà vệ sinh.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu
tôn giáo, Hà Nội, số 4. 2003; Tạp Chí Triết Đạo.
Tác giả: Trần Văn Toàn,
Gs.
(theo Dung Lạc –
dunglac.org)




tinlanhanphuc


0 nhận xét:
Đăng nhận xét